Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh hoạt cộng đồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh hoạt cộng đồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Cuộc bầu cử vào Hạ viện 2013 Cộng hoà Séc





  • Cuộc bầu cử vào Hạ viện  2013

    Cộng hoà Séc – kết quả cuối cùng
    20,45 %
    Dân chxhội
    18,65 %
    Yes 2011
    14,91 %
    CỘNG SẢN
    11,99 %
    TOP 09
    7,72 %
    ODS
    6,88 %
    Bình minh
    6,78 %
    Thiên c.giáo
    3,19 %
    Xanh






    • Piráti2,66 %
    • Svobodní2,46 %
    • SPOZ1,51 %
    • DSSS0,86 %
    • Změna0,57 %
    • HLVZHŮRU0,42 %
    • Suveren.0,27 %
    • SsČR0,26 %
    • KČ0,17 %
    • LEV 210,07 %
    • ANEO0,02 %
    • PB0,02 %
    • RDS0,01 %
    • OBČ_20110,00 %
    • KAN0,00 %
    %






























    Phân bổ các ghế của các đảng phái trong Hạ viện Séc

    Tổng số cử tri đi bầu:59,48%
    Đảng Cộng sản chiếm 33 ghế, xếp thứ 3
    Đảng  Dân chủ Xã hội chiêm sô ghế cao nhất: 50















Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

LỄ HỘI THÀNH PHỐ DOMAŽLICE 8,9 .8.2013


Những người bạn cùng dự lễ hội - chú chó dẫn người mù dự lễ hội Domažlice 2013




Hàng hoá , ẩm thực dân gian truyền thống Séc từ các địa phương khác nhau

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

ĐI LÀM MỘC




ĐI LÀM MỘC


Có một đội làm rừng nổi tiếng tại miền Tây nam Séc do 1 nữ tướng chỉ huy. Người chỉ huy đó là một phụ nữ Việt Nam, con gái nuôi của một quan chức chánh phó công ty Less & Forest, đóng đô tại Sušice. Ý đồ của nữ tướng là lập một đội quân chuyên nghiệp với độ khoảng 30 hay 40 mạng dưới trướng mình. Đội quân này ngự tại hẳn một toà nhà 3 tầng biệt lập, có hẳn một tổ cấp dưỡng để nuôi ăn cho đội quân làm rừng tại Kvilda thuộc vườn quốc gia Sumava.
Cách thức tuyển quân của đội này cũng khá đặc biệt. Tại một đầu thủ đô Praha, cô liên hệ với một vài nhà môi giới mà luôn có quan hệ với những người khốn khó, những người thất nghiệp. Cô cũng có quan hệ mật thiết với những người có máu mặt, những người nổi tiếng, những tổ chức quan tâm tới những người khốn khó như Hội phật tử, Hội người Việt, hoặc hội doanh nghiệp Việt Nam tại Séc.
Thế là văn phòng dịch vụ nào đó tại Praha gửi người tới với phí dịch vụ cỡ 2 hay 3 ngàn curon, nói là „đi làm mộc“, „nuôi ăn ở“, và „công việc tha hồ“ với hứa hẹn „lương cao“.Những người ấy được chở lên nơi núi cao với những khu rừng bạt ngàn. Sáng họ được chở ra rừng, chiều tối họ được chở về, được ăn no, ngủ kỹ và chờ đợi ngày mai. Có nhiều người muốn bỏ việc nhưng cũng không biết hoặc không có cơ hội „chuồn“. Nhưng rồi, nhiều người cũng biết hỏi nhau, cũng biết cách tìm đường về. Thường thì làm một tuần là ngấm, và họ tìm cách ra đi. Và tất nhiên, coi đó như một chuyến du lịch, tuy mất tiền dịch vụ và tiền công làm trong một tuần hay mười ngày gì đó. Cứ thế, người đến, người lại đi. Bên dịch vụ thu tiền và bên mua dịch vụ cũng được lợi.
Tất nhiên, cũng có những người làm được việc. Có tốp tự dùng xe riêng của mình, tự đưa nhau đi làm thì thu nhập cũng khá. Số người như thế cũng chỉ cỡ 5 hay 6. Số còn lại là những vị bị trông coi, tất nhiên chỉ hưởng với mức lương 500 hay 600 curon một ngày.
Đội „mộc“ này luôn khát người.Khi tốp người của chúng tôi đặt chân lên đất Kvilada năm 2010 thì lập tức trong ngày đã được cô chủ viếng thăm. Lời mời chào với mức lương „ Ngon lành“ và đối với ai biết tiếng sẽ cho làm việc „nhàn“, chỉ chuyên lo ghi chép... Nhưng, rồi nguy cơ bị mua người ấy cũng không đến với tôi.
Đội quân hùng mạnh như đã nói trên kia năm 2011 đã bị giải tán do bị một quả lừa. Số là suốt trong năm 2011, vườn quốc gia Sumava không cho phép các thể nhân mà không đăng ký trước như là người thầu phụ được làm tại đó. Công ty Less & Forest là nhà thầu chính. Dưới nó, công ty của cô doanh nhân kia là thầu phụ.
Dịp mùa xuân 2011, cỡ 30 người Việt Nam của cô được huy động đi trồng cây tại vùng Ceské Budejovice. Bên cạnh tốp cô là tốp của thầu phụ khác, cũng là một nam doanh nhân Việt Nam. Hai bên luôn trong tư thế gầm ghè. Doanh nhân nam là một kỹ sư cũng có máu mặt, có chiều dầy lịch sử tại vùng Klatovy. Anh ta cũng có cả toà nhà cho công nhân ở, có dịch vụ bán giấy nhà ở, có công nhân làm xưởng mộc thật tại nhà máy đóng palet ở Sušice.
Đến tháng 6 thì mọi việc trồng cây đã xong.Những người không có cư trú trvaly không được làm ở Công viên nhân dân Sumava nữa và như thế, hai nhóm này phải giải tán. Xe cộ nhiều chỗ ngồi, máy cưa đắt tiền chắc cũng phải bán. Họ là những người đầu tư khá mạnh bạo. Riêng số máy cưa mỗi người cũng sắm cỡ vài chục chiếc. Mỗi chủ cũng đã đầu tư vào cỡ tiền triệu.
Từ đó trở đi, chuyện bào vỏ cây cũng chìm vào quên lãng. Đó là công việc nặng nhọc và cũng chỉ kéo dài từ tháng 6, tháng 7 đến tháng 9 là tàn canh.
Mọi người quan tâm hơn tới công việc nhà máy vì cho dù có làm 12 đến 16 tiếng một ngày, nó vẫn nằm trong sức chịu đựng của con người. Mà quan trọng hơn, công việc trải suốt trong năm, không phải nay đây , mai đó như việc rừng.
Vào dịp tháng 8 năm 2011, tôi được biết nữ tướng kia còn đang cãi vã, kiện tụng vì chủ thuê không chịu trả tiền công 750 000 curon, số tiền do trồng cây của mấy chục con người. Theo lời cô kể thì số máy cưa cùng phương tiện đã mua sắm cỡ 4 triệu. Cùng với thiệt hại ngót nghét 1 triệu này thì cô mất khoảng 5 triệu curon, một con số đáng nể. Đáng nể hơn, lại xảy ra đối với một người đàn bà Việt Nam trên đất Séc này.
Cô khoe, tuy mất mát, có đau xót thật nhưng cũng vẫn còn cơ sở thêu ở Sài Gòn , chuyên xuất hàng sang Mỹ. Thế cũng đủ ăn tiêu, sự nghiệp vẫn êm ả như ai. Không biết cái đống máy cưa chạy bằng xăng của cô quẳng cho ai, quẳng đi nơi nào rồi.


TESAŘ


   Tam je les proslavila na Jihozápadních Čechách žena velitelka. Velitelka je žena z Vietnamu, která byla adoptovanou dcerou náměstka úředníků firmy Less & Forest z Sušicích. Pod představou této ženy obecně je do profesionální armády asi s 30 nebo 40 lidí pod jejího sítě . Tato armáda bydlela v samostatné 3-patrové budově, která podporovala organizaci, aby oživila vojáky do lesa v národním parku Šumava Kvilda.
   Způsob, jakým tento tým nabírá dost zvláštní. Na jednom konci , z města Prahy, její kontakt s několika makléři, které se vztahují k neutěšené situaci lidí, kteří jsou nezaměstnaní. Ona také má úzké vazby s gansterskými lidmi, slavnými lidmi, organizacemi zabývajícími se těžkostmi, jako buddhistické asociace Vietnamu, nebo svaz Vietnamských podnikatelů.
   Takže určitý služební kancelář v Praze hned poskytl lidi s servisním poplatkem 2 až 3 tisíc korun, řekl, že bude jenom "dělat truhlářství", že "krmit a bydlet zdarma" , že "práce zkažené" se slibem, že "mzda vysoká. " S důvěrou pak lidí byli transportováni do hor, kde jsou i rozsáhlé lesy. Ráno byli přepravováni do lesu, Pozdě večer, byli převezeni do hradu, kde ti tesaři povečeřeli, spali a čekali na zítřek. Existuje mnoho lidí, kteří chtěli přestat dělat práci, ale nevěděli jak, nebo neměli možnost "utéct z tohoto místa". Ale pak, mnoho lidí kladené znali, věděli, jak najít cestu. Často si je namočit týden, a pak věděli najít způsoby, jak jít. A samozřejmě, viděli to jako výlet, ale přichází o peníze za prostředkování a peníze za práce v týdnu nebo deset dnů, nebo něco takového. Konkrétně lidé přicházeli, a lidé zase odešli. Dodavatel služby dostal peníze a kupující službu také těžil.
   Samozřejmě, že existují lidé, kteří umějí tuto práci dělat. Tam byla nějaká skupina, která měla své auto a samostatně prováděla práci a měla příjem docela dobře. Také lidé byli pouze 5 nebo 6. Ostatní byli samozřejmě hlídaní a měli nárok na mzdu jen 500 nebo 600 českých korun denně.
   Tým "tesař" měl vždy žízeň o lidí. Kdy naši lidé přistáli v roce 2010 na Kvildu , hned naši lidé měli zdvořilostní návštěvu velitelky. Byla nabídnutá "Dobrá práce" s chutnou mzdou a pro ty, kteří budou umí mluvit, práce bude "nečinnosti", pouze něco zaznamenat s tužkou ... Ale pak taký risk se mnou nastal , lidé nebyli nakoupení.
  Silná armáda jak je uvedena výše, že byla rozpuštěna v roce 2011 kvůli efektivnímu triku. V skutečnosti v roce 2011, národní park Šumava zabránila osobám bez předchozí registrace jako subdodavatel tam dělat. Společnost Less & Forest je hlavním dodavatelem. Pod ním, společnost této vietnamské velitelky byla další obchodní subdodavatelé.
   V Příležitostech jara 2011, zhruba 30 Vietnamců bylo mobilizováno zasadit stromy v regionu České Budějovice. Vedle jejího skupiny byl ještě druhý subdodavatel, stejně jeden podnikatel z Vietnamu. Obě strany se rozbily ze skříně. Obchodní muž je inženýr a má krvavou tvář, s tloušťkou v historii. v Klatovech On také zahrnuje budovy pro pracovníky, servisní prodejní papírové ubytování, dřevník s pracovníky v závodě v Sušici s paletami.
   V červnu, všechny stromy byly sázené. Člověk , který nemá trvalý pobyt v ČR nesmí pracovat v Národním parku Šumava a už tím, že tyto dvě skupiny byly rozpuštěny. Vícemístní vůz , dražší pily musí asi být prodávány. Oba subdodavateli byli docela agresivní investory. Zejména pily každá skupina si nakupovala několik desítek. Každý majitel investoval docela miliony v hotovosti .
   Od té doby se věci odkornění kůr stromu také upadají do zapomnění. Je to tvrdá práce a trvá jen od června, července do září a pak je zdecimována .
   Lidé se více zajímají o továrních pracovních míst, protože navzdory dělá 12 do 16 hodin denně, je stále v lidské vytrvalosti. Ale mnohem důležitější je, že tvorba šířila po celý rok, to není to, že v lese dnes tady, zítra tam.
   Náhodou srpnu 2011, jsem zjistil, že velitelka měla nějaké soudní spory. Odběratel nechtěl zaplatit 750 000 korun dodavateli částku výsadby desítky lidí. Podle ní peníze po nákupních zařízení se dosáhlo velikosti 4 miliony českých korun. Podle velitelky, ztráta téměř 1 milion s nákladem na zařízení, sama ztratila asi 5 milionů korun, což je úctyhodné číslo. Další pozoruhodné, stane se ženou z Vietnamu na české půdě.
   Ona se chlubila, že i kdy ztráta byla bolestivá, ale měla ještě zařízení vyšívání v Saigonu, které se specializují na zboží do USA. Cílem je jíst dostatek, stále klidný kariéru jako jeden celek. Nevíme hromadu benzínových pil, pro něž hodila, a hodila někam.










Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

CHÀNG THANH NIÊN HUTNER MIROSLAV-MLÁDEŽ HUTNER MIROSLAV

CHÀNG THANH NIÊN HUTNER MIROSLAV

Hutner Moroslav là một thanh niên người Séc, một người lao động thực thụ. Đó là một con người hiểu biết vừa phải và lấy việc làm là lẽ sống để tồn tại.Anh ta không còn cha mẹ nữa, sống từ nhỏ với bà nội và được thừa kế một ngôi nhà đổ nát, cũ kỹ ở một làng cách Janovice chừng 6 đến 7 km. Tuy chữ nghĩa của anh ta còn sai lỗi chính tả, nhưng anh ta cũng có một cái bằng để có thể được phép đốn cây, cưa cắt cây như mọi người thợ rừng khác.Thu nhập của anh ta ít không đáng kể, nhiều khi không đủ tiền trả bảo hiểm y tế nữa và có đôi lần nhận trợ cấp như những người cùng đinh trong xã hội- những người không có thu nhập đáng kể. Nỗi uất hận của anh ta đối với kỹ sư Milan cũng thật vô bờ bến.
Ngày 25.5.2009, Hutner Miroslav đã chứng kiến cuộc cãi vã, xô xát của một gia đình làm cho Milan mà không được trả tiền.Đó là gia đình Nosálovi sống ở phố K letišti của thành phố Klatovy.Theo biên bản mà Hutner Miroslav trình với công an là ba người trong gia đình Nosálovi đã cãi vã với Milan, dùng lời lẽ căng thẳng, có nguy cơ đe doạ Milan, định xông vào phá huỷ xe hoặc đốt xe của Milan. Tuy nhiên , sự lừa đảo của Milan lại đến với cả Hutner.Milan hứa hẹn là sẽ trả tiền theo khối lượng gỗ được đốn hạ hoặc được bào vỏ. Suốt cả đợt ăn, ở, làm tại Kvilda từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 9 năm 2009, Hutner chỉ nhận được vài ngàn curon, đủ tiền để mua bánh mì, bia trong suốt thời gian bám rừng.
Anh ta cữ ngỡ là nhận được tiền khoán theo mét khối. Những bản hợp đồng thì lại ở dạng làm thuê thí dụ, tháng chừng 10, 15 tiếng đồng hồ. Và anh ta nhận lương đúng như thế, có cả giấy biên nhận. Ngày 10.2.2010 anh ta đã tố cáo sự lừa đảo này tới thanh tra lao động Plzeň. Căn cứ theo mấy cái hợp đồng trá hình là tiến hành công việc: trong tháng 3 năm 2009 là làm việc từ 28 tháng 3 đến 31 tháng 3, trong tháng tư năm 2009 là làm từ 1 tháng 4 đến 30 tháng 4, trong tháng 5 năm 2009 là từ 1 tháng 5 đến 31 tháng 5, trong tháng 6 năm 2009 là làm từ 1 tháng 6 đến 30 tháng 6. Những tháng tiếp theo cũng kiểu đó, trừ trong tháng 11 là làm từ 1 tháng 11 đến 13 tháng 11. Thế mà trong chứng từ, anh ta chỉ nhận trong tháng 3 là 900 curon, tháng 4 là 2400 curon, tháng 5 là 5000 curon, tháng 6 là 5000 curon và tháng 11 năm 2009 là 1200 curon ( lương 5 giờ làm)?.
Số khối mà anh ta ghi chép là trên 1 ngàn. Nếu tính theo giá „bèo“ , một khối đáng giá 240 curon thì anh ta có thể có 240 000 curon. Kể nửa số đó cũng quí rồi.
Khi kiện lên thanh tra lao động, vì không có hợp đồng, nên thanh tra đều chịu, và họ lại muốn bắn sang toà án giải quyết.Toà nào giải quyết cho anh ta khi chả có hợp đồng, chả có bằng chứng gì. Hutner cho biết rằng còn biết bao người Séc khác cũng bị lừa tàn ác như thế. Có nhiều người Séc sợ hắn như sợ cọp vì nghe nói có người nhà làm trong công an, toà án. Điều này chắc có phần đúng, để giải thích tại sao hắn ngông nghênh, coi mọi người như rơm rác và trắng trợn đổi trắng thay đen.
Hutner vẫn mong cho tôi thắng kiện. Anh ta không thể hình dung bằng con đường nào có thể kiện cáo được Milan. Số tiền anh ta nhận được từ Milan suốt thời gian làm rừng liệu có đủ cho anh ta ăn, tiêu, đi lại, trả tiền nhà nay chỗ này, mai chỗ kia, kể cả tiền nhà trọ ở Kvilda?
Công an Klatovy tỏ vể hay giả vờ tỏ vẻ bất lực. Theo như lời họ nói thì thằng cha này lừa rất nhiều người. Họ cũng chứng kiến biết bao người kêu gào. Cứ hết người này đến người khác chui vào rọ, hắn không bao giờ mất tiền chi phí nhân công cho công việc mà hắn nhận làm của các đơn vị quản lý rừng.


   MLÁDEŽ HUTNER MIROSLAV


Hutner Moroslav je mladý Čech, je pravý pracovník. Je to člověk se středně lidským poznáním a uvědomí , že práce je pravděpodobně existence života.Hutner nemá ani rodiče, dětství žijící se svou babičkou a zděděný starý zničený dům v obci deleko od Janovice o 6 - 7 km. Ale jeho slova byla chybná, ale má také odznak s cílem mělo být povoleno kácet stromy, řezání a jakýchkoliv dalších lesních dělníků.Jeho příjem byl výrazně nižší, často nemohl zdravotní pojištění platit více a několík krát pobírál dávek jako nejnížší ve společnosti, kteří nemají podstatný příjem. Že jeho zášť vůči inženýru Milanovi také nekonečný




  Na 25.5.2009, Hutner Miroslav byl svědkem hádky, rvačky mezi jednou rodinou a Milánem kvůli bezplacenému penězi To je Nosalová rodina, žijící v ulici K Letišti z města Klatovy.Dle záznamů, Hutner Miroslav byl u policie, že tři členové Noslové rodiny měli spory s Milanem, s použitím slov stres. Byla hrozba na Milana, chtěli zaútočit nebo zničit auto nebo zapálit jeho vozidla . Nicméně, Milánov podvod dochází i na Hutnera.Milan slibí zaplatí v závislosti na objemu dřeva porazeného nebo loupaného. Skrz kulaté ubytování, na Kvildě od července 2009 do září 2009, Hutner získat pouze několik málo tisíc korun, dostatek peněz na nákup chleba, piva při pobytu u lesa.

  Jeho myšlenka je dostat peníze výměnu v metrech krychlových. Smlouvy je ve formě zaměstnání například asi 10 nebo, 15 hodin v měsíci. A dostal jako plat, přesně dle příjmových dokladů. Na 10.2.2010 se vypovědět tuto podvodu u inspekce práce Plzeň. Na základě těchto tzv. skrytého smluvní práce prováděné: v březnu 2009 je pracovat od 28. do 31. března, v dubnu 2009 od 1. dubna do 30. dubna, v měsíci květnu v roce 2009 je od 1. května do 31. května, v červnu 2009 od 1. června do 30. června. Další měsíce jsou podobné, s výjimkou v listopadu smlouva platila od 1. listopadu do 13. listopadu. Přesto v dokumentech, se právě dostal v březnu 900 Kč,v dubnu 2400 Kč, v květnu 5000 Kč, v červnu 5000 Kč a v listopadu 2009 byl 1200 Kč (výplat za 5 hodin vypracovaných)?.



  Počet kubíků, který se zaznamenával byl kolem 1000. Pokud vypočtená podle "tuk", jeden kubík stojí 240 Kč, že Hutner by mohl mít 240 000 Kč. Vzhledem k tomu, polovina toho pro něho by byla moc vzácná.
 Stížnost byla podaná k inspekci práce. Protože tam byla žádná smlouva, takže podléhají kontrole, a chtěli aby problém vyřešil soud . Když není smlouva, není důkaz. Hutner řekl, že zatímco mnoho jiných českých lidí mělo takový krutý trik.. Existuje mnoho českých lidí , kteří se bojí o něj jako tygr, protože slyšeli že má někoho příbuzného v policii, nebo v soudu. To musí být něco pravdivé, aby vysvětlil, proč se Milan chovál extravagantně , zacházel s lidmi jako odpadky slámy a flagrantní změny bílé místo černé.
  
 Hutner stále doufal, abych já vyhrál. Nedokázal si představit, v jakém případě je možné Milana žalovat. Peníze, které obdržel od Milána během doby lese stačilo pro něj k jídlu, pepři, jízdě, platit nájemnému to tady, zítra tam, včetně nájemu v Penzionu na Kvildě?


Policie Klatovy malovála nebo předstírala, že podívala se bezmocně. Podle jejich slov, ten chlap podváděl, takže na mnoho lidí. Oni také viděli, kolik lidí plakali. Jen jedna osoba na druhé dostat do košíku basketbalu, nikdy neztratil mzdové náklady práce, kterou obdržel od správní jednotky. lesa

BÀO VỎ CÂY, BÓC VỎ CÂY-ODKORNĚNÍ, LOUPÁNÍ KŮR STROMŮ

BÀO VỎ CÂY, BÓC VỎ CÂY


Cái từ „ bào vỏ cây“, „bóc vỏ cây“ là cho rất nhiều người không hiểu đó là công việc gì. Có người Việt Nam hình dung như việc bóc cái lớp vỏ thân cây để bán hay để làm thuốc gì đó. Kể cả những người luật sư Séc cũng không hiểu bào vỏ cây là thế nào.Nói một cách đơn giản là dùng một phương tiện nào đó để huỷ đi lớp da của thân cây. Cây ở đây chủ yếu là cây thông.Hàng năm, cứ mùa xuân đến, sâu rầy lại hoành hành. Chúng chui vào vỏ cây ăn, ở, vui chơi, đùa nghịch và sinh đẻ vô kế hoạch.Trời hết mưa rồi lại nắng, chúng bay ra bay vào. Những cây thông trồng sau 10 hoặc 20 năm chúng có thể tàn phá trong chốc lát.Tụi này có thể tiêu diệt cả cánh rừng nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.Liên minh châu Âu đã phải tài trợ cho chương trình bảo vệ rừng. Ở Kvilda, thuộc công viên nhân dân Šumava, công việc bào vỏ cây diễn ra rầm rộ nhất.Người ta dùng bộ phận chuyền chuyển động quay của chiếc máy cưa chạy xăng sang bộ phân có gắn 4 lưỡi dao thép. Khi lưỡi dao quay sát thân cây, lớp vỏ bị bắn tung ra. Các loại sâu to, sâu nhỏ, trứng triếc bị đập nát khiến chúng không còn khả năng duy trì và phát triển dân số nữa. Như vậy biện pháp ngăn ngừa chỉ còn cách cây nào có sâu là đốn hạ. Sau đó tiêu huỷ nốt môi trường sống và ẩn nấp của sâu rầy .Công việc này thật nặng nề, tốn kém và phải dùng phương tiện kỹ thuật và sức cơ bắp, sự cần cù của con người.
Từ năm 2007, Milan đã thuê hội HT bào vỏ cây và phun thuốc hoá chất lên thân cây. Lúc ấy giá bào vỏ cây rất cao. Milan đã trả tới 240 curon cho một khối gỗ bào. Hắn đã từng ca ngợi những người Việt Nam làm việc năng suất như thế nào.Một người Việt Nam có thể làm 30 khối một ngày. Một người Séc hắn thuê chỉ làm được từ 3 đến 7 khối. Định mức của hắn đưa ra sau này cho một người làm phải đạt ít nhất 10 khối trong một ngày.
Lần đầu tiên tôi thấy Milan cướp đoạt của Hùng trắng vài trăm mét khối gỗ đã bào là vào dịp tháng 11 năm 2008. Tháng 11 đến là lúc tuyết bắt đầu rơi. Những người công nhân phải dời khu nhà trọ-các Penzion cao cấp ở vùng núi Kvilda. Họ về đâu đó tìm công việc khác hoặc nghỉ ngơi. Số gỗ đã được bào và còn xếp đống tại rừng nói là để sang năm thanh toán . Rồi năm sau, chẳng ai nhắc hoặc chẳng có cơ hội nào nhắc tới chuyện đó nữa.Nhân đây cũng kể luôn khỏi quên. Vụ trồng cây năm 2008, Milan ăn bớt của Hùng trắng một cách trắng trợn về số lượng và tàn bạo về giá cả. Hắn hứa trả 2,5 curon một cây thì sau này H.T. chỉ nhận được 1 curon/1cây. Lý do bớt nào là phạt bù số cây bị chết khô, nào là chờ đến tháng 9, tháng 10 cây sống mới thanh toán nốt. Rồi tháng 9, tháng 10 đến, chẳng ai nhắc tới chuyện thanh toán nữa.
Hết tháng 4, việc trồng cây quanh khu Chudenice của ông Mnářík kết thúc. Việc rừng ở đây cũng theo thời vụ như nghề nông nên chỉ trông cậy vào đây cũng không ăn thua.
Tháng 7 năm 2009 Milan bảo tôi mua 1 máy bào vỏ cây và hắn cho chúng tôi mượn 1 cái. Và chúng tôi lên đường, tới Kvilda vào giữa tháng 7 năm 2009.Trong nhóm ba, bốn người, không ai biết lái xe nên họ được một người Séc, anh chàng Hutner Miroslav , người làm thuê cho Milan chở đi làm và chở về chỗ ở. Bốn người Việt Nam ở và ăn tại nhà trọ Františkov, cách Kvilda chừng 2 km.Hai người trong đội làm rừng ở lại lo cắt cỏ cho khu trồng cây con chỗ Mnářík. Chúng tôi muốn khai phá khu vực công viên nhân dân Šumava. Ai cũng nghĩ rằng việc bào vỏ cây có thể ra tiền. Đó là công việc cơ giới hoá, việc tập trung vào một chỗ. Một đống gỗ to, chỉ có việc gậm ngoạn dần dần. Hutner Miroslav là thợ đốn cây. Sau khi anh ta hạ cây và cưa cành xong, những người Việt Nam bắt đầu dùng máy bào chà xát huỷ vỏ của những khúc gỗ dài 8 mét, 6 mét hoặc 5 hay 4 mét.Mỗi ngày họ ghi lại số gỗ bào được. Số liệu ghi lại là độ dài và đường kính của đoạn gỗ.
Hàng ngày, tốp công nhân đọc về cho tôi số liệu độ dài cây gỗ và đường kính thân cây. Biết hai số liệu đó, ta dễ dàng tính toán ra số khối gỗ đã làm trong ngày của từng người và của cả đội.Cánh thợ rừng còn có bảng tra. Số liệu dưới 10, tức 0,01 mét khối thì coi là số không.Sau mấy ngà tôi lại tổng hợp và gửi e-mail cho Milan. Hắn còn nói:“ Các anh phải làm việc tận tuỵ, ghi chép chính xác và gửi về đều đặn“. Khi công việc kết thúc, tôi còn thấy trên bàn làm việc của vợ hắn có tập bản in từ Exel mà tôi đã gửi cho hắn. Mà in mầu hẳn hoi cơ đấy. Hắn bảo bản đó để thanh toán với công viên nhân dân.
Chuyện thanh toán tiền, tôi nhắc nhiều lần. Vợ chồng hắn lúc nào cũng nói „yên trí, sẽ có tiền“. Rồi hắn lại viện lý do ông này, ông kia nghỉ phép. Nhiều lần tôi đến văn phòng công ty nhưng chỉ thấy con vợ nó ở đó. Lời lẽ thì lần nào cũng vậy, với ai cũng vậy, rằng chỉ có chồng mới biết, chỉ có chồng mới giải quyết được. Cái con bài Milan tránh mặt mọi người tại công ty đã trở nên điêu luyện. Chỉ may ra ai có liên hệ điện thoại trực tiếp mà hắn chủ động tiếp mới có mong gặp mặt được hắn ở văn phòng công ty.
Mấu chốt của việc lừa đảo là đói phương ép ta. „ Mày làm tiếp đi thì tao sẽ trả cho mày số tiền kia“- Ở hầu như mọi chỗ đều có dạng na ná hư vậy. Thế là bạn, với tâm tư lo lắng, nửa tin, nửa ngờ lao tiếp với hy vọng thu được số tiền cũ. Chỉ vì thế mà nhiều khi chúng ta mất trắng số tiền.Nếu tỉnh táo, qua nhiều lần thất bại, đáng ra ta nên sẵn sàng hy sinh một số tiền. Nhưng phải ép-“Hãy trả số tiền kia, tao sẽ tiếp tục. Nếu không , chấm dứt ngay từ đây“.
Sự kiện này lúc nào cũng làm tôi ân hận, ấm ức. Tại sao mình lại có thể bị lừa như thế, tại sao mình lại có thể bị lún sâu như thế? Nhưng ở đời, ai học được chữ ngờ. Nó cho cùng, còn có những vị còn bị những cú lừa còn to và nặng hơn thế chứ. Cô em anh bạn HT kia chứ đâu. Qua mấy tháng trời, có hàng chục người làm trồng cây tại vùng České Budejovice mà cuối cùng 750 000 curon nào có đòi được.Kết thúc sự nghiệp là còn lại đống máy móc và dụng cụ mua sắm có giá trị tới vài triệu curon. Bao ý đồ vươn lên, tiến tới đã đổ gục.Kết thúc một sự nghiệp con nuôi phó giám đốc công ty Less a Forest, kết thúc ước mơ vươn lên địa vị dám đấu thầu và thắng thầu.


ODKORNĚNÍ, LOUPÁNÍ KŮR STROMŮ
















   Slovo "odkornění", "loupaní kůr stromů" je pro mnoho lidí nerozumí tomu, co je za práce. Vietnamští lidé představí jako odstranění skeletu léčivých rostlin určených k prodeji, nebo tak něco podobné. Dokonce i čeští advokáti nechápou, že co to je za odkornění.Jiným slovem je to jednoduchý způsob, jak je použít nějaký prostředek k odstranění kůži stromu. Stromy v tomto případě jsou hlavně borovice.Každý rok na jaře, škůdci zuří. Oni se dostali do kůry . Mají tam ubytování, zábavu, vtipy a porody neplánovaně.Kdy přestal déšť , slunce svítí všichni pak odletí. Stromy vysazované po 10 nebo 20 let, mohou být zničené v tomto okamžiku .Oni mohou zničit celé lesy bez opatření k předcházení . EU financovala program na ochranu prales. Na Kvildě, v Národním parku Šumava, práce odkornění je nejagresívnější .Lidé přemění rotační pohyb benzinových řetězových pil do částí montovaných na 4 ocelovými noži. Když nože otočí na kůru, záběr kůry zahájený. Různé druhy červů, malé červy, vejce budou drcené, že už nemohou udržet a růst populace. Tato opatření zabraňují pouze na strom již poškozený a porazený na zem. Pak zničil stanovišť škůdců. Tato práce je těžká, drahé a mají používat technické prostředky a tvrdé svaly lidské.








  Od roku 2007, Milan najal skupinu HT odkornění a stříkání chemikálií na stromy. Na to, že byla velmi vysoká cena odkornění kůry. Milan zaplatil 240 českých korun za kubíku dřeva. On chválil vietnamských lidí jak měli produktivitu práce.Jeden sám může udělat 30 kubíků denně. Český který najal jen 3-7 kubíků. Normy z tohoto on dělal po osobě, musí být nejméně 10 kubíků denně.



 V listopadu roku 2008 jsem poprvé viděl HT Milanem okraden o několik set metrů krychlových dřeva. Když začal padat sníh, pracovníci se museli opoustět vysokotřídní Penzion na Kvildě . Vrátí se tam, kde najdou práci nebo mají odpočinek. Zbývající dřevo je loupané nechané na hromadu v lese. řekl Milan, že zaúčtování bude na další rok . O rok později, nikdo nezmínil, nebo není šance zmínil o tom ještě. Při této příležitosti, jako vždy, já řeknu, abych zapomněl. Vysazování stromů v roce 2008, Milán měl ukrást od skupiny HT bezostyšně brutální množství a cenu. Slíbil, že zaplatí 2,5 Kč za strom, pak HT dostal jen 1 Kč/1 strom. Důvodem odpočítání je kompenzace mrtvých stromů, které je čekají, až září nebo říjen 10, kdy stromy skutečně žije, platba bude placená. Pak v září, říjnu, nikdo nezmínil o platbě.
  

V dubnu, končí se sezóna sázení stromů v oblasti Chudenic Mnáříka. Na lesní práci, stejně jako sezónní zemědělství nemožné úplně spoléhat .


  
 Července 2009 Milan mi řekl, že až koupit 1 mašinu na odkornění kůry a nechal nám jedou půjčit. A my jsme vyrazili na cestu, do Kvildy v uprostřed července roků 2009.V skupině jsou tři, čtyři, nikdo neumí auto řídit. Hutner Miroslav , kteří je pracují u Milána měl odvést naších lidí do práce . Čtyři Vietnamci ubytovali v Penzionu Františkov. Daleko asi 2 km od Kvildy. Dva lidé z lesní posádky zůstali u Mnářika, a měla se starat řezat trávu pro výsadbu Sazenice v oblasti. Chceme, aby prozkoumala oblast Šumava. Všichni si mysleli, že při odkornění kůry mohou generovat peníze. To je práce mechanické, zaměření na jednom místě. Velká hromada dřeva, pouze postupně kousl. Hutner Miroslav je lumbermen. Poté, co dokončil řezání stromů a větví, Vietnamci začali odkorňovat kusy dřeva 8 m, 6 m nebo 5 nebo 4 m dlouhého.každý den, zaznamenali objem loupeného dřeva . Záznam dat je délka a průměr dřeva.




    Každý den, skupina dělníků přečetli mě o délce a průměru kmene. Kdy víme ty dva údaje, je snadné vypočítat počet kubíků dřeva, který dělali dělnici ve dnech od každého nebo a od celé skupiny.Lesní pracovníci mají také tabulky. Níže uvedené údaje 10, nebo 0,01 m3 je považován za nulový.Po několik dnů jsem vypočítal a poslal e-maily Milánovi. On také řekl: "Musíte pracovat závazek, přesně a poslal na pravidelném základě." Když práce se končila, viděl jsem na stole jeho manželky dokumenty aplikace Excelu, který jsem Milanovi poslal. Dokumenty byly vytištěné v barvě, . Milan řekl, že třeba ukázat  dokumenty, aby národní park zaplatil.
  

 O zaplacení, jsem se zmínil několikrát. Jeho manželka vždycky říká "klid, tam je peněz." Pak se omluvit ho, že opustí muž. Mnohokrát jsem šel do firemní kanceláře, ale jen našel jeho manželku . Samé tam slova, pokaždé, s každým tak, že pouze její manžel ví, jen manžel vyřeší Karet Milana skrýt od každého ve společnosti se stal kvalifikovaným. Kdo může mít přímý telefonický kontakt, že se aktivně těší na setkání s ním v kanceláři.
  


 Jádrem podvodu je, že síla od nepřátele nás tlačí. "Musíte pokračovat, budu platit vám částku první" - v téměř každém místě je podobné selhání. Takže jste s úzkostným myslí, polovina věří a polovina pochyb o tom, s nadějí bývalých výdělku. Pouze tak moc, když jsme ztratili nějaký peníze. Pokud jsme střízlivi, tak po mnoho neúspěšných pokusů, měli bychom být ochotni obětovat nějaké peníze. Ale musíme nutit: "Dej mi nějaké peníze tam, budu pokračovat. Pokud tomu tak není, zastavíme tady. "
  

 Tato událost vždy mě mrzí, teplé vzpomínky. Proč mohu se mýlit, jako to, že důvod, proč bych mohl být hluboko potopený, že? Ale v životě, kdo se naučil slovo pochybnosti. Je pro stejné, jsou také lidé, kteří měli trik větší a těžší než . Nezapomeňme případ sestry pana HT. Během několika posledních měsíců, desítky lidí vysadili stromy ve vzdálené Českých Budějovicích , že nakonec 750 000 Kč nikdy nedostala.Ukončila svou kariéru jako zbývající hromadu strojů a zařízení v hodnotě několika milionů českých korun. Které se zvedají záměr, k přístřešku. Konec kariéry pro přijetí dcerky zástupce ředitele z Less and Forest, končí sen odváží tomu, aby se z nabízení a vítězství.

QUÁN QUÊ HƯƠNG-HERNA „RODNÍ ZEM“


QUÁN QUÊ HƯƠNG
Cái quán tít tít này thì có gì liên quan gì đến sự lừa đảo của kỹ sư Milan? Ấy vậy mà có đấy.Số là tôi có rao là muốn tuyển lựa một đội có xe, có người lái xe để đi trồng cây, làm các việc về rừng. Bà già của anh chủ quán cũng có đám đệ tử mới từ Việt Nam sang. Sang Séc mà ngồi lâu, chờ đợi cũng sốt ruột.Nhà thì có xe, có người cũng biết nói đủ hiểu, biêt nghe đủ rõ tiếng Séc. Ấy vậy là họ lặng lẽ tới gặp Milan. Khi đi, họ không quên nhờ một người thạo tiếng Séc hơn để phiên dịch, liên hệ và ký hợp đồng. Tôi cũng không biết rõ họ có ký hợp đồng hay chơi tay bo với Milan.Đội trưởng chỉ huy các thành viên trong đội là chủ quán.Anh ta lo việc đi lại, ăn ở và cuối cùng là việc ăn chia.Quán đã có người nhà lo. Cái công việc trông coi ấy nó đã có nề có nếp trong nhiều năm và có vẻ cũng nhàn hạ hơn khối công việc khác.Mấy công nhân trong xưởng mài vòi nước ở làng Straž cũng tham gia đội hình.
Ít lâu sau, tiền làm không đòi được, các thành viên trong đội chửi rủa nhau, đánh nhau, cãi nhau ầm ĩ. Và rồi họ cam chịu“ngu thì mất“. „Biên bản bàn giao“, „Đơn đặt hàng“, đó chỉ là các thứ lý thuyết, là những thứ rác rưởi để mang ra cãi nhau trước toà. Rừng rú, nơi hội tụ của những thằng thích lừa và những thằng muốn bị lừa gặp nhau.Chả trách, có một lần tôi quảng cáo tuyển người làm rừng trên mạng...Lời lẽ tôi rao thật ôn hoà, nhã nhặn. Ấy thế mà có một người, đúng là một người lao động với giọng đầy căm hờn, hết lòng bầy tỏ sự phẫn uất. Rằng:“các việc rừng này ông hãy mang người nhà sang mà làm, không ai dãi nằng dầm mưa cho ông đâu. Hãy chết đi cái việc làm rừng rú của ông “. Tôi cũng hơi ngạc nhiên rằng người lao động kia sao lại coi công việc đó là dãi nắng dầm mưa. Nếu không thích, không cần, ai bắt anh làm cơ chứ. Đây là việc làm cho ai có sức khoẻ, thích tự do phóng khoáng, cho những người cần tiền gấp hoặc cho những ai đã từng quen với công việc đó. Qua giọng hằn học của anh ta đủ biết là anh ta đã từng là nạn nhâncủa các vụ lừa đảo tại rừng trên đất Séc. Biết bao nhiêu số phận cam chịu, đành chấp nhận mất mát, đành gác lại nỗi đớn đau để đi tìm cơ hội khác.


HERNA „RODNÍ ZEM“
   Co to herna „TIT TIT“ nemá nic společného s podvody inženýra Milan? Přesto je .Kdy já zvěstoval, je zaměstnat tým s autem a s řidičem k sadbě stromů a lesním pracím. Jeho stará dáma majitele má novou skupinu učedníků z Vietnamu. V Česku seděli již dlouho, počkali s horečkou střeva..Auta měl, někteří lidé také mluví dost rozumět, umí a slyší dost jasně česky. Přesto tiše šli navštívit Milana. Při cestování, nezapomněli se zeptat více plynně překladatele české, aby měli kontakt a smlouvy. Já ani nevím, že se nakazili, nebo hráli s volním       ruční s Milanem. Velitel týmu je majitel herny.Ten pan se postaral o cestování, ubytování a konečně, zda rozdělit výsledky. Herna má domácí péče. Takovým úkolem bylo v dobrém slova smyslu na mnoho let a zdá se také prožívala jiné masové práci .Několik pracovníků v továrně broušení vodní bakterií ve obci Stráži také se připojil k týmu.


  Krátce poté, co se peníze nebyly vráceny, členové týmu nadávali navzájem, bojovali a argumentovali hlasitě. A pak jsou odsouzeni k "němé to trvá". "Hand-dodávané", "Objednávky", což je Druhá teorie, je koš, aby se na boj u soudu. Jungle, konvergence těchto kluků chtěl podvádět a kluci chcete napálil .Nemožno kritizovat, když jsem dával nábor inzerce online ... Moje slova hlásají les byl poklidný, slušný. Přesto jedna osoba, stejně jako dělník s hlasem plným nenávisti, z celého srdce rád vyjádřil rozhořčení. Že: "Až přivést příbuzných dělat, ne kde jeden paprsky energie pásy v dešti pro něj. Pojďte zemřít pro svou džungle ". Jsem také trochu překvapený, že ostatní pracovníci, proč považovat práci jako dlouhé deště a pod slunečným Pokud tomu tak není, to ne, kdo nařídil mu, aby to tak. To je práce pro někoho v dobrém zdravotním stavu, stejně jako liberální svobody, pro lidi, kteří potřebují peníze naléhavě, nebo pro ty, kteří byli zvyklí s tím. Přes jeho hlasu začarovaného stačí vědět, že se stal obětí podvodu v lese na české půdě. Kolik odsouzených osudů, přijali ztrátu, museli odložit bolest a jít podívat na jiné příležitosti.

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

CHÌM MÃI, CHÌM MÃI, RỒI SẼ NỔI-Potopená, potopená, pak se vám bude WELL





CHÌM MÃI, CHÌM MÃI, RỒI SẼ NỔI
Trong một cuộc kiểm tra lao động tại nhà máy sản xuất bánh kẹo ở Olšany thuộc huyện Klatovy , phòng lao động huyện Klatovy gọi đến công ty HAXA. Do tôi ký lại hợp đồng với Milan nên phòng lao động lần đến tôi. Bà kiểm tra vụ việc cười cười nói với tôi, rằng:“Tiền thì thằng Milan nó hưởng, còn bao nhiêu tội vạ thì anh chịu !“. Đúng như vậy, họ nhận xét quả không sai. Hắn không phải mất một cái gì, không phải làm một việc gì ngoài cái việc nhận tiền của những người làm. Sau khi ăn ngon lành, hắn trả cho tôi để tôi trả cho những người công nhân. Phòng lao động Klatovy cũng biết thừa rằng Milan còn có một đám công nhân Viêt Nam đang leo trèo trên các dàn giáo quanh các khu tập thể của Klatovy. Công việc của đám công nhân này là ốp xốp giữ nhiệt cho các căn hộ tập thể, các toà nhà.Tôi có biết người đứng ra tuyển mộ người làm cho Milan là một người Việt Nam. Còn Milan thì ký hợp đồng với một chủ xây dựng khác. Công việc của anh bạn người Việt kia là quản lý nhân sự, lo chỗ ăn, chỗ ở cho những người làm. Với giấy tờ lởm khởm, anh ta phải lấy danh nghĩa của bồ (vợ không chính thức) để ký hợp đồng với Milan. Vợ chính thức của anh ta thì sống cam chịu như người thừa ở cái gia đình một chồng hai vợ. Sau này chị ta đã phải bỏ đi bán hàng thuê cho một ông chủ khác.
Kết quả của sự hợp tác là anh bạn này phải thỉnh thoảng đến văn phòng công ty HAXA để đòi tiền công. Tất nhiên là làm sao mà anh ta nhận được. Những hứa hẹn ban đầu là công ty xây dựng đã phá sản, tiền sẽ trả dần, mỗi tháng một ít. Một ít thì không biết là bao nhiêu, và trả dần thì thì không biết là bao giờ...
Tại xưởng mài phụ kiện nhôm cho tủ gỗ ở Bezděkov, cách Klatovy 5 km tôi có 3 người làm. Lương ít ỏi khiến họ phải bỏ đi. Tôi kết thúc sự dính líu với Milan tại đây vào tháng 9 năm 2009. Sự kết thúc diễn ra đột ngột nên hắn không kịp ăn quỵt.
Sự kết thúc này có liên quan gì đến anh bạn xây dựng trên kia. Có liên quan đấy.Milan lại có cú lừa với anh ta. Hắn yêu cầu anh ta đưa người vào thay nhóm người của tôi, như củng cố lời cam kết trả dần cái khoản tiền ốp xốp khi trước.Tôi đã nhẩm chắc rằng sẽ chẳng có ai vào làm tài xưởng mài đó với lương 65 curon một giờ mà mỗi ngày chỉ làm được có bẩy tiếng rưỡi. Cái xưởng ấy lại nằm ở chỗ chẳng thuận tầu xe, chỗ ăn ở cho người làm lại chẳng có.
Ấy thế mà anh bạn kia cũng kiếm được ra mấy người làm tại đó. Kết quả anh bạn chả nhận được một đồng tiền công nào. Giống như canh bạc, anh ta càng gỡ thì lại càng mất.
Thế rồi cái gia đình của anh ta tan vỡ: chồng (hờ) thì bị túm vì mang giấy tờ tên người khác. Vợ hai vừa có con nhỏ, lại bị ra toà vì những vụ buôn bán hàng bản quyền khi xưa. Không biết gia đình họ, một chồng, hai vợ, một con nhỏ giờ ra sao, đang ở chốn nào trên đất Séc này. Tiền làm sao mà đòi. Kiện làm sao mà kiện.Nỗi nhọc nhằn của những con người mưu sinh còn đầy ắp.Những người công nhân xuất ngoại lại lang thang kiếm chỗ làm để có chỗ ăn, chỗ ở , để có tiền nuôi giấy tờ.Thôi thì đến đâu hay đến đó.Sẽ có một miền Tây hoang dã chờ đón họ: nước Đức, nước Na uy, nước Thuỵ Điển hay nước Phần lan sẽ chứa chấp họ.
Chui mãi, chìm mãi, rồi sẽ nổi.


Potopená, potopená, pak se vám bude WELL

    V kontrole práce v továrně cukrovinek v Olšanech okresu Klatovy, Úřad práce Klatovy vyvolala společnost HAXA.  Mám podepsanou smlouvu s Milanem a proto úřad práce mě taky vyvolala. Paní, která měla starost o incidentu zasmála smíchem řekla mi: "ten chlap Milan to, jak moc mě a medvěd!". Ano, oni přezkoumali výsledky nejsou pochybní.On nemusel nic ztratit, nemají dělat něco nad rámec toho, co uznání těch, kteří vydělávají peníze. Po chutné jídlo, zaplatil mě abych platil dělníkům. Pracovníci úřadu práce Klatovy věděli že Milan má také spoustu vietnamských pracovníků se lezení na lešení kolem Klatovy kolektivních oblastech. Práce této skupiny pracovníků, je izolovaná pěnové dlaždice pro kolektivní byty, domy.Já jsem věděl že kdo stojí mimo nábor lidí pro Milana je Vietnamec. Milan podepsal smlouvu s vlastníkem stavební firmy. Práce vietnamského kolega je personální řízení, péče ubytování, stravování pro lidí, kteří pracují. S falešnými papíry, musí být v názvu milenky (neoficiální manželky), aby podepsala smlouvu s Milanem. Jeho oficiální manželka žije jako nadbyteční v rodině manžela a manželky. Později musela opustit a prodala zboží pro dalšího šéfa.
   Výsledkem této spolupráce je tento muž musí občas přejít na kancelář firmy HAXA , aby požádal o peníze mezd. Samozřejmě, jak by mohl dostat. Tyto slibné počáteční stavební firma zkrachovala, budou peníze vyplácí ve splátkách, každý měsíc něco. Někteří nevědí, jak moc, a amortizace, není známo, kdy ...
   V dílně broušení hliníkových součástí na dřevěných skříň v Bezděkově, 5 km daleko od Klatov jsem měl 3 lidi. Málo bylo zaplaceno a lidé odešli. Skončil jsem vztah s Milanem zde, v září 2009. Konec přišel náhle k němu. Žádný čas byl k úmyslnému nezaplacení.
   Ten konec to má něco do činění s tím kolegou tam ?  Je související .Myš Milan měl ho trik . Zeptal se ho přivést lidi, aby nahradily mou skupinu, jako je posílení závazku zaplacení částky předtím zaslíbené.Pevně já zajistil, že stahování nebude mít nikoho. Kdo by to udělal za 65 Korun broušení za hodinu a každý den, jen by měl sedm a půl hodin opracovaných? Továrna byla umístěna v tomto místě, které nemá žádné pohodlné spojení s autobusem nebo vlakem, s žádným ubytováním pro těch, kteří tam pracují.
   Přesto kolega tam také získal pár lidí . V důsledku toho, že koule dostanete minci. Stejně jako sázka do loterie, on víc odebral, tím více ztratil.
   Pak se zlomila rodina: manžel byl zabaveny pro provádění papíry jiného jména. Druhá manželka, s malým dítětem byla u soudu kvůli obchodováním falešných značkových zboží předtím. Nevím kde je taková rodina s jedním manželem, dvěma manželkami a jedním malým dítětem dnes na české půdě. Jak pohledá peníze? Jak obžaluje? Ztížené podmínky lidí žijících byl plný .Exportující pracovníci do zahraničí opět bloudí při hledání práce aby měli místo k jídlu,  aby měli přístřeší, aby měli peníze k udržovali své papíry. Tak, na místo, kde nebo do.Se má Divoký západ je čeká: Německo, Norsko, Švédsko nebo Finsko bude krýt je.
   Tečení skluzu navždy, potopena navždy, bude plavat.

NHỮNG NGƯỜI SLOVAKIA TỘI NGHIỆP- CHUDÁCI SLOVÁCI





NHỮNG NGƯỜI SLOVAKIA TỘI NGHIỆP

Trong số những nạn nhân mà Milan Halada ăn quỵt tiền, không ít là những người từ Slovensko. Có vài ba người là nhân viên, luôn đi theo xe Mercedes xanh. Có việc gì thì họ làm việc đó. Bảo họ khuân gỗ từ rừng lên xe thì họ khuân. Bảo họ chẻ củi thì họ chẻ. Trong cuộc xung đột với những người Việt Nam ,khi mà con trai Milan ăn cắp củi và cọc gỗ, họ tỏ ra hiền lành. Họ không có ý bảo vệ, bênh vực chủ.Dáng họ tội nghiệp làm sao. Vài ba người ngoan ngoãn làm việc với đồng lương chết đói. Họ không phải là nhân viên trung thành gì cho cam. Họ không chờ gì sự thăng tiến carier gì ở chốn nay làm mai nghỉ của công ty HAXA. Số phận họ là số phận của những người lang thang.
Tôi nhớ nhất một gia đình ông già Slovakia. Họ đi trồng cây cùng những người Việt nam tại Zeležná Ruda ( đỉnh Spičák, bên vệ đường, gần trạm xăng hướng xuôi về Klatovy).Cả gia đình đi một chiếc xe cá nhân Ford mầu đỏ. Họ gồm một ông già, bà vợ và cậu con trai.Từ Slovensko , họ tới đây, tranh thủ kiếm vài đồng curon trong mùa trồng cây. Khi mới đến họ còn kiêm nhiệm trọng trách trông coi những người Việt Nam trồng cây, xem hội này trồng có thẳng hàng không, có đúng kỹ thuật không, có gian lận gì không, nhất là có chôn cây không. Ông già luôn mồm sùng bái giám đốc Milan, luôn tôn sùng công ty trách nhiệm hữu hạn HAXA:“Các vị có biết Milan Halada là ai không? „- „là giám đốc công ty trách nhiệm HAXA chứ không phải vừa, một công ty đàng hoàng đấy nhé“. Trong mắt ông ta, công ty HAXA cứ như tầm cỡ công Microsoft hay Sony vậy. Ông ta còn chụp ảnh bằng điện thoại di động những điều ngứa mắt để về trình báo cho Milan. Hai vợ chồng cùng đứa con trai cần cù làm việc, căng dây, đo đạc, ghi ghi, chép chép. Buổi trưa, gia đình châm bếp ga trên bình gas 2 kg. Họ trải chiếc bàn xếp, thưởng thức món súp nóng. Phong thái của họ y như đi dã ngoại, hưởng ngày nghỉ cuối tuần êm ả.Những ngày cuối đợt trồng cây tại Zeležná Ruda, chúng tôi cùng gặp họ cùng với tốp người Bulgari trồng cây mé gần biên giới Đức- lối đi quá chợ của người Việt Nam, đi qua đường sắt rồi đi lên dốc.
Độ nửa tháng sau, thật là bất ngờ, tôi lại gặp cả hai vợ chồng ông người Slovakia ấy treo biểu ngữ bêu riếu công ty đáng kính HAXA của họ, rằng là công ty HAXA là công ty lừa đảo, răng công ty HAXA không trả tiền công cho gia đình ông ta. Gia đình ông ta đang không có tiền ăn trên đất Séc này. Mọi người qua đường trên con phố Vídenská (phố Viên, thủ đô nước Áo) đều nhìng thấy cảnh biểu tình này. Có vài người động lòng thương, cho ông già mấy đồng curon lẻ. Ông ta thấm thía những gì ông ta đã xúc động, đã ca ngợi Milan, ca ngợi công ty HAXA s.r.o. Một lần nữa tôi lại tiếc đã không chụp ảnh hay ghi hình những cảnh quí báu như thế. Nhưng quả thật những hình ảnh đó in sâu vào suốt cuộc đời tôi trên đất nước Séc này.
Chắc hẳn có rất nhiều người Slovakia bị lừa như thế. Khi công ty HAXA bắt đầu có trang Web thì ngay cạnh thông tin tuyển người là có dòng chữ đỏ của haker bêu riếu công ty HAXA:“ bây giờ công ty không cần người nữa, thôi, các anh đi đâu thì đi“. Phải uất hận lắm, người ta mới nhờ cậy các chuyên gia vi tính để trả đũa như vậy.
Giờ đây, tôi chắc rằng những người nước ngoài khi nghe tiếng công ty HAXA thì ai cũng phẩy tay và không muốn nghe nữa. Nó đã quá nổi tiếng chuyện quỵt tiền, lừa đảo người nước ngoài.
Cái đống củi quảng cáo trước cửa hàng Kaufland ở Klatovy giờ đây chỉ có số điện thoại giao dịch. Cái tên công ty HAXA cũng không dám phô ra nữa. Cả cái chữ HAXA dán trên chiếc ô tô NISAN của thằng cha bịp bợm Milan cũng phải bóc ra. Điều này chắc có liên quan tới việc tôi kiện nó ra toà án tỉnh Plzen.
Chuyện ra toà của hắn là một vở hài kịch, phơi bày cái tính thô bỉ, trơ trẽn có một không hai trên đời này mà tôi sẽ viết thành một mục riêng sau.


CHUDÁCI SLOVÁCI

  Mezi oběťmi, které Milan Halada nezaplatil peníze, v neposlední řadě i ze SLOVENSKA. Existuje několik zaměstnanců, vždy pošli po modré Mercedes. Je tam něco dělali . řekni jim provádět dřevo z lesa do auta, hned poslouchali. Řekni jim, sekat dříví, oni se rozštěpili. V rozporu s Vietnamcemi, když jeho syn Milan ukradl dřevo a dřevěné piloty, oni dokázali být jemný. Neměli v úmyslu chránit, střežit jejich zaměstnávatele. Vypadali se teď spatně . Málokdo poslušně pracovat pro hladové mzdy. Nejsou loajální spáchaných zaměstnanci. Co se neočekávají propagační Carrier na tomto místě. Dneška dělají ve společnosti HAXA, zítra mohou práci ukončit. Jejich osud je osud těch, kteří se toulají.
   Vzpomínám si na starou rodinu ze Slovenska. Šli spolu s Vietnamcemi na sadbě v Železné Rudě (Špičák vrchol, strana silnice, v blízkosti čerpací stanice směrem dolů Klatovy). Celá rodina jezdila na červené auto Ford . Jsou starý muž, jeho žena a jejích syn ze Slovenska, přišli sem, aby vyhledávali o několik korun během období sadby. Na začátku měli odpovědnost hlídat Vietnamců, aby dělali v souladu správné techniky, aby nebyl podvod zejména aby nebylo zakopání stromů. Starý pán vždy v ústech kultem ředitel Milan, vždy ctěn společnost s ručením omezeným HAXA: "Ty víš, kdo Milan Halada? "-" Je ředitelem společnosti musí mít HAXA ne jen slušný Jog společnosti ". V jeho očích, třída HAXA společnosti jako Microsoft nebo Sony. On také vyfotografoval mobilním telefonem očima svědění ke zprávě pro Milán. Oba manželé a syn dělali tvrdou práci: roztáhli šňůry, prováděli měření, zaznamenali, zkopírovali . V poledne, rodina zapálila plyn z plynového bomby 2 kg. Zahrnovali skládací stůl, užili si teplé polévky. Jejich chování bylo jako piknik, nyní jako klidné víkendy . V posledních dnech období výsadby v Železné Rudě, se s nimi jsem setkával společně s skupinou z Bulharska v blízkosti německých hranic, uličky trhu Vietnamců, prochází železniční a směřuje nahoru do svahu.
 Půl měsíce později, to bylo nečekané, jsem se setkal jak on a jeho manželka ze Slovenska byl závěsné bannery pranýřován jejich HAXA respektovanou společnost, že společnost HAXA byla podvodná společnost, že společnost HAXA zaplatila za svou rodinu. Jeho rodina bez stravy na české půdě. Lidé ulicemi na ulicích Vídeňská (Vídeň, hlavní město Rakouska) viděli protesty. Měli trochu soucitu, dali starému pánovi nějaké drobné koruny. On byl velmi dobře přesvědčený, co se dotkl, chválil Milan, chválil společnosti HAXA s. r.o. Opět litoval, že jsem nefotil či nenahrával scény také drahé. Ale ve skutečnosti se obrázky potiskem v mém životě v českých zemích.
   Jistě existuje mnoho lidí ze Slovenska bylo podvedeno takhle. HAXA společnost začala s webovou stránkou, která byla hackerovaná . Vedle informace o příjetí lidí do zaměstnání byl červený text Hackere stigma HAXA: "Nyní společnost nepotřebuje už, pojď, vy jeď, jeď". Snad s mocným hněvem, lidé důvěřoval počítačovým expertům k takovým odplatám.
   Teď jsem si jistý, že cizinci, když slyší společnosti HAXA, každý zamával a nechtějí ani slyšet. Milan se stal moc slavný o krádeži peníze, to podvody od cizinců.
   Hromady dřeva reklamy před prodejnách Kaufland v Klatovech nyní mají pouze čísla telefonu. Název firmy HAXA neodváží rozvinout. Název firemní z jeho auta Nisan byl loupaný. To musí být věnováno mému stavu z Plzeňského krajského soudu.
   Jeho soudní příběh je komedie, vystavuje vulgární, nestydatá jediná svého druhu v tomto světě, který já bych napsal další samostatnou položku.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

SỐ PHẬN NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TỪ 2012 ?


Bài này nói về vấn đề hệ thống Svarc. Việc không hiểu luật pháp thì không thể xin lỗi được và mức phạt cho công ty và các cá nhân tới cỡ hàng triệu curon. Đây là nhìn nhận của một nữ luật sư.

  Nhãn liên quan:
·        Luật về thất nghiệp
·        Luật lao động
·        Luật về người làm thuê
·        Các hoạt động phụ thuộc

   Khái niệm hệ thống Svarc không có trong định nghĩa của luật pháp Séc. Đây là khái niệm phát triển trong thực tế mà sự xuất hiện của nó đã gây ra sự phản ứng và sau đó còn là sự sửa đổi luật. Một cách đơn giản hơn, có thể nói đó là thực hiện công việc phụ thuộc mà không thông qua quan hệ luật lao động . Nói một cách khác, đó là quan hệ lao động bí mật, tức là một cá thể , doanh nghiệp tư nhân( nhân viên ảo /giả/)  thực hiện hoạt động kinh tế cho một cá thể khác (người thuê việc giả /ảo /) không trên cơ sở quan hệ luật lao động mà trên quan hệ luật khác. Thông thường đó là quan hệ luật thương mại mà  cả hai chủ lao động ảo và người làm thuê ảo xem ra như những doanh nghiệp. Người làm thuê ảo hoạt động thông thường như người kinh doanh độc lập trên cơ sở giấy phép hành nghề.

SỬA LUẬT VỀ LAO ĐỘNG BẤT HỢP PHÁP

   Cơ sở để xác định về hệ thống Svarc là khái niệm về công việc phụ thuộc mà định  nghĩa của nó có trong bộ luật lao động có hiệu lực đến 31.12.2011. Từ 01.01.2012 có bổ sung và chính xác hoá khái niệm này. Luật lao động mới định nghĩa về công việc phụ thuộc như sau đây:
   Công việc phụ thuộc là công việc được thực hiện theo các dấu hiện:
·        trong quan hệ cấp trên của người chủ và cấp dưới của người làm thuê
·        bằng tên của người chủ
·        theo những chỉ dẫn của người chủ và
·        người làm thuê tự làm công việc cho người thuê

   Các điều kiện để làm công việc phụ thuộc là:
·        để nhận lương, thưởng bởi công việc
·        chi phí và trách nhiệm đều do phía người chủ
·        trong thời gian lao động
·        tại địa điểm của người chủ hoặc một địa điểm khác được thoả thuận

   Theo điều §3 luật lao động, công việc phụ thuộc chỉ có thể thực hiện trên cơ sở quan hệ luật lao động, nếu không bị chi phối  bởi những qui định luật pháp đặc biệt ( thí dụ luật số 218/2002, Sb về dịch vụ của công chức trong các cơ quan quản lý và về tiền thưởng cho các công chức và các nhân viên khác trong cơ quan đó ( luật dịch vụ) và các điều khoản bổ sung, hoặc luật số 361/2003 Sb về hợp đồng dịch vụ của các nhân viên cứu hoả, cùng các văn bản sửa đổi). Những quan hệ cơ bản của luật lao động được hiểu là biên chế lao động và các quan hệ luật dựa trên những thoả thuận về công việc ngoài biên chế lao động. Tiêu chí trọng tâm để phân biệt công việc phụ thuộc theo, tài liệu chuyên ngành (Jakub J.  và tập thể - luật lao động 2012, xuất bản lần thứ 8 có bổ sung, nhà xuất bản Praha ANAG, 2012) là hoạt động bằng tên của người chủ, dựa theo sự chỉ huy của người chủ và dựa trên trách nhiệm luật pháp và trách nhiêm kinh tế của người đó. Những hoạt động được thực hiện  bởi một cá thể cho một cá thể khác hoặc cho một pháp nhân khác  phải được thực hiện trong quan hệ luật lao động.

   Trong trường hợp các hoạt động mà không có đặc tính của công việc phụ thuộc , có thể không tiến hành các hoạt động bằng nhân viên chính thức mà bảo đảm bằng những phương tiện khác, thí dụ như hợp đồng  về công trình, hợp đồng bắt buộc hoặc hợp đồng  nào khác mà các chủ thể của hợp đồng này sẽ không chịu ảnh hưởng các điều sửa đổi của luật lao động mà chỉ chịu ảnh hưởng các điều của luật công dân hoặc luật thương mại.
     Điểm mới của năm 2012 là bổ sung khái niệm „công việc bất hợp pháp“, nó nằm ở điều § 5, chữ c của luật thất nghiệp. Công việc bất hợp pháp từ 01.01.2012  được hiểu như sau:

  1. cá thể làm công việc phụ thuộc ngoài quan hệ luật lao động,
  2. cá thể người nước ngoài làm việc trái với giấy phép lao động hoặc không có giấy phép lao động, hoặc trái với việc cho phép cư trú với mục đích lao động trong một số trường hợp đặc biệt, hoặc trái với thẻ xanh,
  3. cá thể người nước ngoài làm việc cho một pháp nhân hoặc cá thể khác không có phép cư trú hợp pháp tại Cộng hoà Séc .

   Định nghĩa trên thể hiện sự sửa đổi một cách cơ bản từ 01.01.2012 về cách nhìn đối với lao động bất hợp pháp và một cách rõ ràng  nó đánh vào cả hệ thống Svarc. Cho đến ngày này thì công việc bất hợp pháp chỉ là những công việc mà cá thể làm việc mà không có quan hệ theo luật lao động hoặc không có một hợp đồng nào khác. Tức là lúc ấy có thể làm việc hợp pháp  cho pháp nhân hoặc cá thể khác  như là nhân viên, hoặc như là doanh nghiệp cá thể tự chủ (OSVČ). Làm việc trên cơ sở khác với hợp đồng theo luật lao động ,( thí dụ theo luật thương mại) cho đến ngày 31.12.2011  vẫn ổn và không thể bị trừng phạt như là làm việc bất hợp pháp. Luật sửa đổi ngắm đến kỹ hơn đến các trường hợp khi không hề có một hợp đồng nào giữa doanh nghiệp cá nhân tự chủ hoặc  một cá thể nào đó làm cho một người chủ thuê.

NHỮNG KIỂU VI PHẠM CÓ THỂ

   Như đã viết ở trên, công việc phụ thuộc không thể thực hiện kiểu nào khác hơn là quan hệ theo luật lao động. Nếu các doanh nghiệp cá thể trong quan hệ với các cá thể khác mà có các biểu hiện của công việc phụ thuộc như nêu ở trên, đặc biệt là lấy danh nghĩa của người chủ thuê việc, thực hiện theo lệnh của người đó, làm việc trên trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm luật pháp của người đó thì đó là những vi phạm. Yếu tố định nghĩa của công việc phụ thuộc được xét chính là tính chất của công việc thực hiện (đặc trưng là công việc thực hiện tại một chỗ chỉ dành riêng cho một chủ thuê). Ngược lại, công việc không gọi là phụ thuộc, nếu công việc thuộc về chuyên ngành, hoạt động trong thời gian ngắn, hoặc hoạt đọng không có hệ thống, mà kết quả làm ra chi phối bởi các yếu tố không phụ thuộc vào người giao công việc (thí dụ công việc theo mùa, công việc phụ thuộc vào thời tiết, công việc được thực hiện một lần do có đơn đặt hàng v.v…) Giao dịch bằng tên của chủ thuê chỉ có thể thực hiện bởi nhân viên. Vi phạm qui tắc này, khi doanh nghiệp không phải là nhân viên mà  lấy danh nghĩa tên tuổi của của ông ty để giao dịch.
   Rõ ràng hơn thí dụ khi doanh nghiệp dùng các vizit của công ty,  viết E-mail với mẫu trang trí  của công ty hoặc mang đồng phục của công ty. Nếu hoạt động của doanh nghiệp cá thể mà cần đàm phán dưới danh nghĩa công ty (của người chủ thuê ảo), như kiểu  hợp đồng bắt buộc (mandátní), thì doanh nghiệp nên có giấy uỷ quyền để giải quyết những giao dịch về luật với danh nghĩa của công ty (chủ thuê ảo).
   Dấu hiệu quan trọng để thanh tra lao động kiểm tra là doanh nghiệp cá thể  nằm trong sơ đồ cấu trúc của chủ thuê ảo. Doanh nghiệp hoạt động cho người chủ thuê ảo phải trở thành đối tượng không phụ thuộc. Công ty chỉ có thể xác định  anh ta như là một cá thể giao dịch mà họ qui định cho anh ta một qui mô hoạt động. Công ty không được phép giao dịch như là cấp trên trong danh nghĩa khi trao công việc cho doanh nghiệp, nếu không  nó sẽ là dấu hiệu của công việc phụ thuôc.

   Theo một vài quan điểm, có thể là kiểm ra sẽ nhắm vào các trường hợp mà hoá đơn thanh toán luôn là số tiền như nhau. An toàn hơn, tiền thưởng của doanh nghiệp nên thoả thuận luôn lên xuống phụ thuộc vào công suất của công việc. Có thể suy ra rằng bất cứ sự hoạt động dài hạn cho một chủ thể  sẽ là yếu tố đập ngay vào mắt người kiểm tra. Dấu hiệu công việc phụ thuộc cũng có thể coi về cơ bản như  quan hệ lao động bằng hợp đồng với thời gian không xác định. Biện pháp ngăn ngừa là đàm phán để giới hạn hoạt động, thí dụ trên một dự án có hạn thời gian xác định nào đó và doanh nghiệp cá thể sẽ ở vị thế tốt hơn nếu anh ta có thể đệ trình ra thu nhập từ nhiều chủ thuê hơn là từ một ông chủ.
   Yếu tố tiếp mà thanh tra lao động hướng tới là nội dung hợp đồng ký giữa doanh nghiệp cá thể với chủ thuê ảo. Nếu hợp đồng có điều khoản đặc trưng như hợp đồng lao động, thí dụ như doanh nghiệp cá thể được  nhận lương khi không có việc (tương tự như chế độ phép hoặc lương giảm trong thời gian ốm) thì đó là dấu hiệu của  che dấu quan hệ lao động. Những điều đó không có trong quan hệ luật kinh doanh. Tương tự như vậy, yếu tố cạnh tranh trong hợp đồng, ví dụ như  hạn chế doanh nghiệp cá thể hoạt động cho các chủ khác thì cũng có thể coi như đó là sự che dấu quan hệ theo luật lao động. Thanh tra lao động tất nhiên sẽ thận trọng nếu theo dõi là doanh nghiệp cá thể có điểm danh  thời gian đến và thời gian rời công việc ( ghi thời gian làm việc) hoặc vắng mặt (nghỉ phép)..
   Một chứng minh  nữa cho hệ thống Svarc là doanh nghiệp dùng trang thiết bị  thuộc sở hữu của người chủ thuê ảo hoặc hoạt động tại tổng hành dinh hoặc tại chi nhánh của chủ thuê - một đặc điểm rất đặc trưng của người làm thuê. Trong quan hệ của luật thương mại thì phải sửa như: cho thuê dụng cụ, máy móc, trang thiết bị, thậm chí kể cả mặt bằng sản xuất của chủ thuê ảo.v.v…Về điểm này, toà án tối cao Cộng hoà Séc( tuyên án của toà án tối cao Cộng hoà Séc , hồ sơ  21C do 920/2010)  vào ngày 16.06.2011 phán rằng  khi mà tài xế lái xe  của chủ thuê ảo có mang nhãn hiệu của chủ, chủ trả tiền bảo dưỡng xe, bảo hiểm xe  và  xăng mua bằng  thẻ mua xăng  của chủ thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp này không phải trên danh nghĩa của chính mình, không phải chịu trách nhiệm của chính mình, mà đó chỉ là hợp đồng lao động trá hình.
   Sự phụ thuộc của công việc  được suy xét theo tính chất của công việc được thực hiện, theo các dấu hiệu và bối cảnh xung quanh và dựa theo là việc ký hợp đồng lao động đem lại lợi ích cho cả hai bên. Chỉ dẫn của bộ Tài chính chỉ ra những dấu hiệu thông thường nhất của quanh hệ lao động phụ thuộc sau đây:
·        người trả tiền trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra các nhiệm vụ, lãnh đạo và kiểm tra doanh nghiệp tự chủ và hứng chịu trách nhiệm liên quan tới hoạt động đó.
·        doanh nghiệp cá thể có quan hệ với người trả tiền có địa vị tương tự như nhân viên.
·        tiền nhận của doanh nghiệp được tính trên cơ sở thời gian của công việc hoặc tiền ấy tính tương tự như người có quan hệ lao động.
·        vật liệu, dụng cụ lao động, máy móc và trang thiết bị để hoạt động là do người trả tiền cung cấp,
·        quan hệ của người trả tiền với doanh nghiệp là dài hạn hoặc có hệ thống hoặc hoạt động của doanh nghiệp chỉ cho một chủ với thời gian dài hạn.

SỰ TRỪNG PHẠT VÀ KIỂM TRA

Vi phạm qui định trong luật về thất nghiệp , mức phạt cho cá nhân, doanh nghiệp cá thể và pháp nhân  sẽ tăng kể từ 01.01.2012 :

Phạt các cá thể và doanh nghiệp cá thể
Vi phạm
Mức phạt
Môi giới việc làm không giấy phép
1 000 000 Kč
Làm việc bất hợp pháp
   100 000 Kč
Tạo công việc bất hợp pháp
5 000 000 Kč
Không khai báo về thuê việc
   100 000 Kč





Phạt các pháp nhân:
Vi phạt
Mức phạt
Môi giới việc làm không phép
  2 000 000 Kč
Tạo việc làm bất hợp pháp
10 000 000 Kč
Không khai báo việc làm
     100 000 Kč



Các thanh tra của cơ quan lao động sẽ tiến hành kiểm tra công việc bất hợp pháp. Các nhân viên này sẽ vào nơi làm việc, yêu cầu đưa các giấy tờ, các thông tin các các giải thích cần thiết trong hạn thời gian nào đó. Sau đó họ có quyền yêu cầu những đối tượng bị kiểm tra có mặt để thảo luận về kết quả kiểm tra, những động thái cần thiết tiếp theo để tạo điều kiện tiến hành kiểm tra dứt điểm và nhanh . Các đối tượng bị kiểm tra có nghĩa vụ tạo điều kiện cho việc tiến hành kiểm tra và cung cấp các bổ sung cần thiết.
   Các nhân viên của cơ quan kiểm tra có quyền  yêu cầu các cá nhân đang làm việc tại hiện trường trình căn cước và chứng mình là họ đang làm việc trên cơ sở của quan hệ luật lao hay trên cơ sở hợp đồng nào khác.
   Đối với người nước ngoài, các nhân viên này yêu cầu giấy phép lao động, viza cư trú hợp pháp, thẻ xanh lao động, nếu thấy cần thiết theo qui định luật pháp. Không hoàn thành các nghĩa vụ trên, các cá nhân có thể bị phạt hành chính tới mức 10 000 Kč, và nếu lặp đi lặp lại nhiều lần, mức phạt có thể tới 100 000 Kč.
   Cơ quan kiểm tra khi thấy các vi phạm sẽ yêu cầu các cá nhân bị kiểm tra khử những sai sót trong thời hạn nhất định và đưa ra bằng văn bản các biện pháp sửa chữa có thể chấp nhận được. Cơ quan kiểm tra có thể yêu cầu cá nhân bị kiểm tra đến văn phòng cơ quan đệ trình các chứng từ  cần cho việc kiểm tra. Các cá nhân bị kiểm tra này có nghĩa vụ tuân thủ việc triệu tập, nếu không chứng minh được những cản trở quan trọng ngăn cản việc thực hiện nghĩa vụ này trong thời hạn xác định.
   Các pháp nhân hoặc các doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ lưu giữ tại nơi làm việc các bản sao giấy tờ chứng minh sự tồn tại của quan hệ luật lao động, bản sao chứng minh quyền cư trú của người nước ngoài tại cộng hoà Séc, trong suốt thời gian đang thuê việc và trong cả thời  gian 3 năm sau, kể từ ngày kết thúc công việc của người nước ngoài tại nơi làm việc đó.